POESÍA …ERES TÚ

 

Phiếm luận văn học thế giới                                                                                               

của Đàm Trung Pháp

 

Ai trên đời mà không âm thầm tiếc nuối tuổi trẻ qua mau, nhưng đã mấy ai để lệ rơi tầm tã trong những lúc bất thần khóc than cho tuổi thanh xuân ra đi không trở lại như nhà thơ Rubén Darío (1867-1916)? Darío ví tuổi xanh như một “kho tàng thượng đế” mà sự mất đi là cả một tiếc thương vô hạn nằm sâu trong tiềm thức. Chẳng thế mà bốn câu tuyệt bút phát xuất từ một nỗi lòng sót sa của ông được nhắc đi nhắc lại năm lần trong bài “Canción de otonõ en primavera” (Thu ca lúc xuân thì) đã làm bao thế hệ độc giả mủi lòng vì mức độ thiết tha của chúng:

 

Juventud, divino tesoro

Ya te vas para no volver

Cuando quiero llorar, no lloro

Y a veces lloro sin querer

 

Tuổi thanh xuân, kho tàng thượng đế

Đã ra đi không thể trở về

Lúc muốn khóc, ta đâu khóc nổi

Nhưng nhiều khi bất chợt lệ rơi

 

Tuổi thanh xuân thường đồng nghĩa với mộng mơ. Người ta kể rằng thời còn trẻ Gustavo Bécquer (1836-1870) có một cô bạn gái rất xinh mê chàng như điếu đổ. Một hôm nàng âu yếm nhìn Gustavo thật lâu, rồi bất thần lên tiếng hỏi  “Anh ơi, thơ là cái chi chi mà anh mê nó thế hả anh?” Có ai đâu ngờ câu trả lời chẳng cần suy nghĩ của Gustavo“Poesía … eres tú” (Thơ … chính là em) đã trở thành cách định nghĩa thần tình nhất cho tình yêu  từ đó đến nay! Nhà thơ tài hoa nhưng mệnh yểu này cũng đã chẳng để lỡ cơ hội cho tiếng lòng đang thổn thức rót thêm những lời đường mật vào tai cô bạn gái mà chàng vừa xác nhận là nguồn thơ lai láng cho mình:

 

Por una mirada, un mundo

Por una sonrisa, un cielo

Por un beso … yo no sé

Que te diera por un beso

 

Một thế giới cho từng ánh mắt

Một trời xanh mỗi lúc em cười

Mỗi nụ hôn… anh còn suy đoán

Biết tặng gì mỗi lượt em hôn

 

Tuyển tập những bài thơ mang danh “Rimas y leyendas” (Những vần thơ và truyện thần kỳ) –mà từ đó bốn câu trên được trích dẫn– đã được in thành sách năm 1871, tức là một năm sau khi Bécquer qua đời. Kể từ đó đến nay tập thơ dễ thương ấy vẫn còn là những bài thơ tình trinh nguyên được giới trẻ trong thế giới Tây ban nha ngữ ôm ấp.

 

Gần đây hơn, giải quán quân về đam mê phải được trao cho Pablo Neruda (1904-1973). Vị thi bá từng đoạt giải Nobel văn chương này đã chẳng chút ngại ngùng nào khi chính thức mệnh danh cô bạn gái của mình là Nữ hoàng ! Neruda đã cho phổ biến thi tập “Los versos del capitán” (Những vần thơ người thuyền trưởng) để ghi khắc thời gian đắm say trong vòng tay cô Matilde Urrutia. Yêu đến nỗi thi nhân viết cả thơ tặng nàng ngay trên khăn lau miệng trong tiệm ăn! Đoạn chót bài thơ tình lừng lẫy thế gian “La reina” (Nữ hoàng) dưới đây là một bằng chứng hùng hồn cho nguồn hứng khởi “yêu em anh làm thơ”:

 

Y cuando asomas

suenan todos los ríos

en mi cuerpo, sacuden

el cielo las campanas

y un himno llena el mundo

 

Và khi em xuất hiện

tất cả những giòng sông náo động

trong thân anh, những hồi chuông

lay chuyển cả bầu trời

và một thánh ca ngập tràn thế giới

 

Nếu được trở lại trần gian hôm nay, hai nhà thơ Bécquer và Neruda có lẽ sẽ choáng váng sau khi được nghe “Cuando calienta el sol” (Khi mặt trời sưởi ấm) là một bài ca hiện đại sống động được nhiều người trên thế giới ưa thích. Bài hát nổi danh ấy đã tả chân mối liên hệ tình ái bằng một lối viết táo bạo và khiêu khích hơn nhiều so với thời thượng của hai ông:

 

Cuando calienta el sol

Aquí en la playa

Siento tu cuerpo vibrar

Cerca de mi

Es tu palpitar

Es tu cara

Es tu pelo

Son tus besos

Me estremezco, oh

Cuando calienta el sol

 

Khi mặt trời sưởi ấm

Trên bãi biển này

Thân em kích động

Sát bên anh

Là ngực em phập phồng

Là mặt em

Là tóc em

Là những nụ em hôn

Anh rùng mình, hỡi càn khôn

Khi mặt trời sưởi ấm

 

Nếu Gustavo Bécquer đã chinh phục được người yêu thì Antonio de Trueba (1819-1889) còn đang … trong vòng dụ dỗ. Người đẹp của Trueba là một nàng nước da bánh mật, có đôi mắt đẹp mê hồn đến nỗi nếu thiếu đôi mắt ấy trong đời thì thi nhân chỉ còn nước chết ! Thế cho nên sau khi đã thú thật cùng nàng, Trueba khẩn khoản xin nàng một ân huệ nho nhỏ để chàng còn có thể tồn tại trên đời. Ân huệ ấy chỉ gồm có hai điều, cả hai bắt đầu bằng liên từ nếunghe còn có vẻ xa vời, nhưng Antonio vẫn xin nàng ban cho:

 

Si tú a la ventana

Te dignas salir

Si tú una mirada

Me das desde allí

 

Nếu em rời gót sen

Ra tựa bên cửa sổ

Nếu em một cái nhìn

Ban cho anh từ đó

 

Khi bị trái tim thôi thúc, đấng mày râu dù có anh hùng, có “macho” (đầy ắp nam tính) đến mấy, cũng có thể trở thành hành khất tình yêu, hạ mình rất thấp để xin “un poco de tu amor” (một chút tình em) và sẵn sàng đáp lại ngàn lần như thế. Đây là lời van xin tình yêu thành khẩn đam mê cùng với lời hứa đền bù trong một bài ca phổ thông trong thế giới ngôn ngữ Tây ban nha:

 

Por un poco de tu amor

Por un trozo de tu vida

La mía entera yo te la daría a ti

 

Đáp đền cho một chút tình em

Và mảnh nhỏ cuộc đời êm ấm

Anh hứa đời trọn vẹn dâng em

 

Năn nỉ mãi không được, chàng hành khất tình yêu sẽ có lúc trở thành bực bội. Có khi chàng còn dọa dẫm nữa là đằng khác, chẳng hạn như trong bài ca “Adelita.” Người hùng đóng vai hành khất trong bài ca này không những chỉ là nhạc sĩ mà còn là một sĩ quan cao cấp có thể sử dụng phương tiện di chuyển của hải, lục, không quân. Ông đang buồn vì cô Adelita kháu khỉnh, mà ông đang mê mệt, chưa yêu lại ông. Ông còn nghi là nàng dám yêu kẻ khác lắm. Ông rất chân thành và giản dị, đã hứa với Adelita rằng nếu nàng yêu ông thì ông sẽ mua ngay cho nàng một bộ đồ bằng lụa mỏng và dẫn nàng đi rước đèn ngay trong … trại lính của ông ! Còn như nếu mà nàng bỏ ông để đi yêu kẻ khác thì nàng hãy coi chừng, vì tay ông dài ghê lắm :

 

Si Adelita se fuera con otro

La seguiría la huella sin cesar

En aeroplanos y buques de guerra

Y por tierra hasta en tren militar

 

Nếu Li-ta cặp kè tay ấy

Gót nàng ta bám sát không thôi

Bằng máy bay hay bằng tàu chiến

Trên bộ bằng xe lửa lục quân

 

Chưa biết chắc được người mà mình mê rồi có chịu đáp lại tấm lòng mình không (như trường hợp ông quan võ si tình và cô Adelita nêu trên) đã là khổ rồi, nhưng có lẽ còn đỡ khổ hơn là bị ruồng bỏ ngay từ dầu. Như trường hợp một chàng vừa gửi lá thư đầu tiên cho người trong mộng thì lá thư xấu số ấy đã bị cô ta xé bỏ cho gió bay đi. Tuy đau lắm, nhưng chàng vẫn giữ thái độ một người quân tử và viết cho mình bốn câu thơ để tự an ủi:

 

Aunque no me quieras

Tengo el consuelo

De saber que sabes

Que yo te quiero

 

Dù em chẳng yêu tôi

Tôi còn điều an ủi

Vì em biết tôi đây

Sẽ còn yêu em mãi

 

 

Bị coi thường hay bị ruồng bỏ trong lãnh vực tình ái đã là khổ rồi, nhưng có người yêu điên đảo có khi còn khổ nhiều hơn nữa! Vị thi nhạc sĩ này thất tình nên soạn ra bài “Perfidia” (Đảo điên) để cho con tim rướm máu thở than về một người đàn bà đã làm cho đời ông khốn đốn. Ông mang cả Thượng Đế, cả biển sâu ra làm nhân chứng cho mối tình thành khẩn, những lần than khóc, những chuyến đi tìm kiếm vô vọng của ông, tất cả chỉ vì sự đảo điên của cô ta:

 

Mujer, si puedes con Dios hablar

Pregúntale si yo alguna vez

Te he dejado de adorar

Y al mar, espejo de mi corazón

Las veces que me ha visto llorar

La perfidia de tu amor

 

Em, khi được thưa cùng Thượng Đế

Hỏi Ngài xem anh có bao giờ

Dám chểnh mảng tôn thờ em thế

Hay hỏi biển thấu tim anh rõ

Đã bao lần thấy lệ anh rơi

Vì đảo điên tình ái em thôi

 

Te he buscado dondequiera

Yo no te puedo hallar

Y tú, quién sabe por dónde andarás

Quién sabe qué aventuras tendrás

Qué lejos estás de mí

 

Đã tìm em khắp nơi khắp chốn

Mà chẳng hề thấy bóng em đâu

Còn em, ai biết ở phương nào

Tháng ngày qua mạo hiểm ra sao

Khi chúng ta còn bao cách trở

 

Nếu chàng nghệ sĩ tuyệt vọng nêu trên chỉ khóc than và lang thang đi tìm người yêu phụ bạc, thì nhân vật chính trong một bài thi nhạc nữa mang tên “Tú, sólo tú” (Em, chỉ mình em thôi) đã trở nên bệ rạc, rượu chè be bét vì người yêu đã bỏ chàng rồi :

 

Mira como ando, mujer

Por tu querer

Borracho y apasionado

No más por tu amor

Tú, sólo tú

Has llenado de luto mi vida

Abriendo una herida en mi corazón

Tú, sólo tú

Eres causa de todo mi llanto

De mi desencanto y de mi desesperación

 

Này em, hãy trông anh thất thểu

Chót quá yêu em

Thành bệ rạc say sưa

Tất cả vì em

Và chỉ mình em thôi

Lấy khổ đau lấp kín đời anh

Gây vết thương trong trái tim này

Em, chỉ một mình em thôi

Là nguyên nhân cho anh đổ lệ

Cho chán chường tuyệt vọng u mê

 

Những van xin thống thiết như trong hai bài ca “Perfidia”“Tú, sólo tú” vừa kể đôi khi cũng có hiệu quả. Và khi “Kim Kiều tái ngộ” thì hạnh phúc lứa đôi sẽ gia tăng gấp bội, như ta thấy trong bài ca khét tiếng hoàn cầu “Bésamemucho” (Hãy hôn anh cho bõ). Đến đây bút giả xin mạn phép được sử dụng những lời lẽ nồng nàn từ bài ca ấy để chấm dứt bài phiếm luận về thi ca của một ngôn ngữ diệu huyền mà trong đó “poesía … eres tú” (thơ … chính là em) và “el amor lo hace todo” (tình yêu làm ra hết mọi chuyện):

 

Bésame, bésame mucho

Como si fuera esta noche la última vez

Quiero tenerte muy cerca

Mirarme en tus ojos

Y verte junto a mí

Qué tengo miedo perderte

Perderte otra vez

 

Hãy hôn anh, hôn anh cho bõ

Như thể đêm nay lượt cuối cùng

Anh muốn em thật gần anh đó

Để soi hình trong cặp mắt em

Và thấy em quấn quít bên anh

Ôi anh sợ mất em biết mấy

Sợ mất em lần nữa sau này

TRONG CÁNH RỪNG THƯA

Nguyên tác Ý ngữ của Guido Cavalcanti

Đàm Trung Pháp giới thiệu và chuyển ngữ

 

Trong số những ngôn ngữ đã làm quen, tôi thích lối phát âm tiếng Ý nhất vì nghe nó thực là êm tai.  Tiếng Ý sử dụng năm mẫu âm căn bản A, I, U, E, O.  Ba âm đầu phát âm như tiếng Việt, hai âm sau cùng tựa như “ê” và “ô” vậy. Các âm I và E êm ái xuất hiện khá nhiều ở vị trí sau cùng của các danh từ và tính từ số nhiều. Thêm vào đó là một số kết hợp  dễ nghe của một số tử âm và mẫu âm, như khi tử âm S nằm giữa hai mẫu âm thì nó phát âm như âm “d” trong chữ “du dương”, tử âm C khi đi với I và E thì đọc như “chi” và “chê”, các âm tiết GIA và GIO được phát âm như “gia” và “giô”’, và CH tiếng Ý phát âm như “k” tiếng Việt. Như vậy, khi diễn tả ý nghĩ “Trong vườn hoa văn chương Ý có nhiều thi nhân trữ tình” thì người Ý sẽ như “hát” lên câu nói dịu dàng Nel giardino letterario d’Italia ci sono molti poeti lirici.”  Hãy tưởng tượng niềm hạnh phúc của một thi nhân tốt số khi được một giai nhân người Ý cho nghe lời vàng ngọc giữa lòng thiên nhiên rực rỡ —như cô mục tử không tên đã ban cho nhà thơ Guido Cavalcanti trong bài dã ca (pastorale) In un boschetto  mà những tiểu đoạn nên thơ nhất được chuyển ngữ dưới đây:

 

Guido Cavalcanti (1260-1300) là bạn thơ tâm đắc nhất của đại thi hào Dante nước Ý. Ngang ngửa thi tài với Dante, Cavalcanti là thủ lãnh trường phái Dolce stil nuovo (Lối viết mới ngọt ngào) mà chủ đích là để tán dương phụ nữ. Tán dương phái đẹp đâu có gì mới mẻ, nhưng cái mới ngọt ngào của trường phái Cavalcanti là niềm tin rằng tình yêu chỉ có thể phát sinh trong những trái tim hào hiệp cao nhã và phái đẹp chính là những thiên thần giáng thế để cứu độ các đấng mày râu! Như vậy, tình yêu hiến cho phụ nữ cũng là tình yêu dâng lên Thượng Đế. Cavalcanti nổi danh với nhiều thơ về triết lý cao siêu, nhưng những tác phẩm được mến chuộng nhất của  ông lại là những bài thơ ngắn nhiều nhạc tính dễ trở thành những bài dã ca (pastorali) trong đó lý luận khô khan biến mất, để chỉ còn lại những tình ý cá nhân chứa chan xúc cảm. Bài dã ca khét tiếng In un boschetto (Trong cánh rừng thưa) là một tuyệt chiêu nói về cuộc gặp gỡ như mơ giữa thi nhân và một nữ mục tử trong một cánh rừng thưa. Yếu tố thành khẩn và bộc trực trong cảm nghĩ của cô mục tử làm người đọc khó quên được nàng. Nàng diễm lệ như thế này thì còn ước ao chi nữa:

 

In un boschetto trova pastorella

Piu che la stella  — bella al mi parere

 

Trong cánh rừng thưa  gặp cô mục tử

Hơn cả sao trời – nàng đẹp như mơ

 

Tóc vàng óng ả, da thịt hồng tươi, đôi mắt long lanh tình ái, nàng đang chăm sóc đàn cừu non. Mà gợi cảm thay:

 

E, scalza, di rugiada era bagnata

Cantava come fosse innamorata

 

Và đi chân không, đẫm ướt sương mai

Nàng hát ca như say hương tình ái

 

Thi nhân choáng váng, chào nàng làm quen và muốn biết có ai đi cùng với nàng không ? Dịu dàng nàng thưa:

 

Che sola sola per lo bosco gia

Chỉ mình em thôi đơn độc băng rừng

 

Như thể đã quen thi nhân từ lâu, nàng thỏ thẻ cho biết mỗi khi nghe tiếng chim ca nàng lại thầm ước có được người yêu. Dịp may tới rồi, thi nhân tự nhủ, vì nàng còn lẻ bóng mà chim chóc lại đang ca hát tưng bừng. Chàng bèn thử lửa:

 

Merzè le chiesi sol che di baciare

E d’abbracciare – le fosse’ n volere

 

Tôi chỉ xin ân huệ được hôn nàng

Và ôm ấp– nếu như nàng ước vọng

 

Nắm tay thi nhân, nàng cho biết trái tim đã trao chàng đó. Tay đan tay, họ đi dưới những cành cây tươi tốt, quanh chân họ hoa sắc muôn màu. Nàng chẳng còn là mục tử tầm thường nữa đâu:

 

E tanto vi sentio gioia e dolzore

Che dio d’amore – parmevi vedere

 

Và nơi ấy cho tôi  bao thống khoái

Thần tình yêu – chính đích thị nàng rồi

 

Người dân Ý yêu In un boschetto của Cavalcanti vì chính vị thủ lãnh Lối viết mới ngọt ngào, với chủ đích tán dương phụ nữ trong thi ca, đã thần thánh hóa diệu kỳ một nữ mục tử sống hạnh phúc giữa lòng thiên nhiên, chẳng cần chút  cao sang nào cả !

 

 

 

 

“LÝ THUYẾT BĂNG SƠN” VÀ 

TRUYỆN NGẮN “CON MÈO TRONG MƯA”

 

Nguyên tác của Ernest Hemingway                                                                             

Đàm Trung Pháp giới thiệu và chuyển ngữ

 

Ernest Hemingway (1899-1961) lãnh giải Nobel văn chương năm 1954 và được biết đến nhiều nhất qua các tác phẩm The Sun Also Rises (1926), A Farewell to Arms (1929), For Whom the Bell Tolls (1940), và The Old Man and the Sea (1952).

Văn phong độc đáo của Hemingway là giản dị tối đa (tránh những câu văn dài lòng thòng chứa đựng nhiều mệnh đề phức tạp), trực tiếp (như nói thẳng với người đọc), không trang điểm (ít dùng tĩnh từ và trạng từ để làm huê dạng câu văn). Lối viết ngắn gọn đi thẳng vào vấn đề của Hemingway có thể là do ảnh hưởng của những năm ông hành nghề ký giả ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Văn phong này phát sinh từ lý thuyết băng sơn của ông, mà phần nổi ở trên mặt nước (đỉnh băng sơn) là nơi chứa đựng những dòng chữ viết và phần chìm (đáy băng sơn) là nơi ẩn náu của các hàm ý nảy sinh từ các biểu tượng trong phần nổi. Theo Hemingway thì người viết có thể  lờ đi  bất cứ điều gì khi họ biết là họ cố tình không viết nó ra với chủ ý phần bỏ qua sẽ làm câu chuyện mạnh mẽ hơn và cho độc giả cảm thấy đã lãnh hội thêm một điều gì đó có ý nghĩa sâu xa hơn những điều biểu hiện trong truyện.

Lý thuyết băng sơn đề cập trên đây chính là lý do tại sao truyện ngắn rất tiêu biểu Hemingway tựa đề Cat in the rain thoạt thấy thì có vẻ nông cạn (lối viết bỏ lửng, cốt truyện đơn giản, dàn nhân vật sơ sài), nhưng thực ra tuyệt tác này đầy ắp những hàm ý sâu xa khi ta đọc kỹ nó. Tác giả truyện ngắn này dùng nhiều biểu tượng đắc địa, như được giải thích dưới đây.

Ngay tựa đề câu chuyện đã là một biểu tượng sắc nét: Ở đâu đi nữa thì một con mèo ướt nhoẹt nước mưa nằm co ro một xó đều vẽ lên một hoàn cảnh “tội nghiệp quá” rồi. Trong đoạn mở đầu Hemingway dùng thời tiết xấu với trời mưa không ngớt làm biểu tượng cho một mối liên hệ vợ chồng đang tan rã khó lòng hàn gắn.  Sự thiếu trưởng thành của người vợ được ám chỉ qua sự kiện nàng không có tên gọi mà chỉ được nhắc đến là “người vợ Mỹ” và nàng hành động như một đứa con nít (muốn đích thân đi bắt con mèo ướt nước mưa, muốn được ngồi ăn với thìa nĩa bằng bạc và bạch lạp). Con mèo đóng vai biểu tượng kiệt xuất cho một đứa con mà người vợ ước ao được ôm ấp trong lòng. Cuối cùng, con mèo ấy được cô làm công mang đến cho nàng như một món quà đặc biệt từ ông chủ khách sạn, người mà nàng mới quen mà đã dành cho nhiều thiện cảm. Món quà ấy chuyên chở cái hàm ý quan trọng nhất trong truyện để làm kết luận: Nếu bao giờ nàng ta có một trẻ thơ để ôm ấp trong lòng thì hạnh phúc ấy chỉ có thể xảy ra với một người đàn ông khác.

Xin mời thưởng lãm truyện ngắn Con mèo trong mưa của văn hào Ernest Hemingway do Đàm Trung Pháp chuyển sang tiếng Việt dưới đây.

**********

Chỉ có mỗi hai người Mỹ ở lại khách sạn. Họ chẳng quen một ai trong số những người họ gặp trên cầu thang trên đường ra vô phòng họ. Phòng họ trên lầu hai, ngó ra biển. Cũng ngó ra công viên và đài kỷ niệm chiến tranh. Có những cây cọ lớn và những ghế dài trong công viên. Khi thời tiết tốt bao giờ cũng có một hoạ sĩ với chiếc giá vẽ. Các hoạ sĩ thích hình dáng những cây cọ và những màu sắc tươi sáng của những khách sạn hướng ra các công viên và biển cả. Nhiều người dân Ý từ phương xa ghé đến để xem đài kỷ niệm chiến tranh được làm bằng đồng sáng loáng trong mưa. Trời đang mưa, nước mưa tí tách rớt xuống từ các lá cọ và đọng thành từng vũng trên các đường lát sỏi. Sóng biển nhấp nhô trong làn mưa rơi, rạt vào trong bãi rồi lại kéo ra khơi.  Những xe hơi đã rời khỏi công viên. Bên kia công viên, trước quán cà phê có một người hầu bàn ngó ra hướng công viên vắng lặng.

Người vợ Mỹ ngó qua cửa sổ. Bên ngoài, ngay dưới cửa sổ, một con mèo đang nằm co quắp dưới một chiếc bàn, cố gắng thu mình thật nhỏ để không bị ướt nước mưa.

‘Em đi xuống bắt con mèo nhe,’ người vợ nói.

‘Để anh làm cho,’ người chồng đang nằm trong giường trả lời vợ.

‘Không, em làm lấy. Tội nghiệp con mèo đang tránh mưa dưới chiếc bàn.’

Người chồng tiếp tục đọc sách, nằm nghển cổ trên hai chiếc gối trên giường.

‘Coi chừng bị ướt đấy,’ anh ta nói với vợ.

Người vợ đi xuống cầu thang và người chủ khách sạn vội đứng dậy cúi đàu chào nàng khi nàng đi qua văn phòng. Bàn giấy của ông ta nằm ở phía bên kia của văn phòng. Ông ta đã già và rất cao.

‘Trời đang mưa,’ nàng nói bằng tiếng Ý.  Nàng thích ông ta.

‘Dạ, dạ, thưa bà, thời tiết xấu lắm.’

Người chủ khách sạn đứng đằng sau bàn giấy trong văn phòng. Người vợ Mỹ thích ông ta, cũng như thái độ nghiêm trang khi ông ta nghe những lời than phiền của khách trọ. Nàng thích phẩm cách ông ta. Nàng thích phong thái ông ta muốn phục vụ nàng. Nàng thích bộ mặt già nua, nặng nề và hai bàn tay lớn ông ta.

Vì thích ông ta, nàng mở cửa để ngó ra ngoài. Trời mưa nặng hạt hơn. Một người đàn ông choàng áo mưa đang đi từ phía công viên trống vắng về phía quán cà phê. Con mèo chắc đang nằm ở phía bên phải. Có lẽ nàng nên đi dọc bờ tường để còn được mái nhà che khỏi ướt, nàng tự nhủ. Và ngay lúc đó một cô làm công tại khách sạn đã mở dù che mưa cho nàng.

‘Bà không nên bị ướt,’ cô làm công vừa tươi cười vừa nói. Dĩ nhiên chính ông chủ khách sạn đã sai cô ta ra giúp nàng.

Được cô làm công che dù, người vợ Mỹ đi dọc con đường lát sỏi cho đến khi tới chỗ dưới khung cửa sổ.  Chiếc bàn vẫn còn đó, nhưng con mèo chẳng thấy đâu. Nàng chợt lộ vẻ thất vọng. Cô làm công ngó nàng và hỏi:

‘Bà mất vật gì chăng?’

‘Lúc nãy có con mèo ở đây,’ thiếu phụ Mỹ trả lời.

‘Một con mèo à?’

‘Phải, một con mèo nhỏ.’

‘Một con mèo,’ cô làm công vang tiếng cười. ‘Một con mèo trong mưa ?’

‘Phải, nàng đáp, ‘con mèo dưới chiếc bàn.’ Nàng nói tiếp: ‘Trời đất ơi, tôi muốn có nó quá. Tôi thèm có một con mèo con!’

‘Thôi xin bà đi vô, kẻo ướt.’

‘Đành vậy chứ sao bây giờ,’ nàng trả lời cô làm công.

Họ đi ngược lại con đường lát sỏi và nàng mở cửa trở vào khách sạn. Cô làm công còn đứng bên ngoài để đóng chiếc dù lại. Khi người thiếu phụ Mỹ đi qua văn phòng, ông chủ khách sạn lại cúi đàu chào nàng. Nàng thấy ray rứt trong lòng. Ông chủ khách sạn làm cho nàng cảm thấy mình vừa nhỏ bé vừa quan trọng sao đó. Bỗng chốc nàng cảm thấy nàng quan trọng tuyệt vời. Nàng leo cầu thang, mở cửa phòng. George vẫn nằm trên giường đọc sách.

‘Có bắt được con mèo ấy không?’ người chồng hỏi, đặt cuốn sách xuống.

‘Nó đi đâu mất tiêu rồi!’

‘Không biết nó đi đâu nhỉ.’

Nàng ngồi xuống giường, nói:

‘Thèm nó quá. Không biết tại sao thèm nó thế. Em thực muốn có con mèo con tội nghiệp đó. Một con mèo con trong mưa thì có gì vui thú ?’

George lại tiếp tục đọc sách.

Nàng đi về phía bàn trang sức, ngồi trước tấm gương, tay cầm chiếc gương nhỏ. Nàng ngắm nghía profile của mình từ hai phía. Rồi nàng quan sát phía sau đàu và gáy.

‘Anh có nghĩ là em nên để tóc mọc dài ra không,’ nàng hỏi, trong khi quan sát profile mình một lần nữa.

George ngước lên nhìn phía sau gáy vợ, tóc cắt ngắn như con trai.

‘Anh thích kiểu tóc em đang để.’

‘Em chán kiểu này rồi,’ nàng đáp. ‘Chán trông giống con trai lắm rồi!’

George đổi vị trí nằm trong giường. Từ khi vợ bắt đàu nói, chàng nhìn vợ chăm chú.

‘Em trông xinh thấy mồ ấy mà,’ chàng nói.

Nàng đặt chiếc gương xuống bàn trang sức, đi ra phía cửa sổ ngó ra ngoài đường. Màn đêm đang kéo xuống.

‘Em muốn kéo hết tóc ra phía sau và cột thành một túm lớn để có thể sờ thấy,’ nàng nói. ‘Ước chi có con mèo ngồi trong lòng để mà vuốt ve, để mà nghe nó rù rì nhỉ!’

‘Thiệt hả ?’ George lên tiếng, vẫn nằm trên giường.

‘Em cũng muốn được ngồi ăn với thìa nĩa bằng bạc riêng của mình, với bạch lạp. Và em muốn bây giờ là mùa xuân, muốn chải tóc bồng bềnh, muốn có con mèo, muốn quần áo mới.’

‘Thôi, ngậm miệng lại đi, và kiếm  cái gì mà đọc,’ George trả lời. Chàng tiếp tục đọc.

Cô vợ vẫn ngó qua cửa sổ. Trời đã tối mịt và mưa vẫn còn rơi trên các lá cọ.

‘Ít nhất phải có con mèo. Em muốn có con mèo ngay bây giờ. Nếu không được để tóc dài, không có gì vui, phải có con mèo!’

George chẳng còn nghe lời than của vợ nữa. Chàng còn mải đọc sách. Cô vợ vẫn ngó qua cửa sổ và thấy ánh đèn rọi sáng công viên.

Có tiếng gõ cửa.

‘Mời vào,’ George lên tiếng, mắt rời khỏi cuốn sách.

Cô làm công xuất hiện trước cửa phòng. Cô ta ôm chặt một con mèo trong lòng.

‘Xin lỗi ông bà,’ cô giải thích, ‘ông chủ tôi sai tôi mang con mèo này cho bà nhà.’

 

 

 

 

HINDSIGHT OF AN ENGLISH LANGUAGE LEARNER*

 

Dr. Phap Dam

Texas Woman’s University

 

 

Distinguished colleagues:

 

I have come a very long way in the process of acquiring American English since the day I was a “limited-English-proficient” freshman at Miami University in Ohio in the Fall of 1959. But this achievement has been a life-long effort whose beginning stage was quite daunting. I am gratified that my passion for English and a few other foreign languages has turned me into a dedicated language educator at the University of Saigon from 1965 to 1975 and now at Texas Woman’s University.

 

I was the product of Tran Luc Junior High School and Chu Van An Senior High School, which were reputable government-run learning institutions in Saigon. The instructional language in these schools was Vietnamese, my emotional language, which I used so easily and safely, without any fear of mispronunciation or bad syntax at all! I started learning French in elementary school in Hanoi, and I continued to learn it with passion until my graduation from high school. But I had to wait until junior high school for the pleasure of learning English.

 

In my culture, teachers have always been revered, and few (if any) students dare to criticize or challenge their teachers. But in retrospect, I must say that my teachers of English back then were extremely unqualified because of the circumstances: English was too unfamiliar to us in the mid-1950s, and teachers taught it mostly “by default.” They tried their best to teach us, but they themselves had problems with pronunciation and lacked fluency in  spoken English. English was taught as a written language only, with total focus on grammatical rules and  English-Vietnamese and Vietnamese-English translation activities. Only much later on, when I became a graduate student in linguistics at Georgetown University, did I find out with joy that the method used by my teachers of English back then actually had a very apt name: the “Grammar-Translation Method”! Thanks to this method, I did become a pretty good translator and grammarian whose written English was both grammatical and correctly spelled. To tell the truth, even at that young age, I could, for example, thanks to excessive rote learning, describe the structure and exemplify the usage of the future perfect progressive tense. That is a pretty sophisticated tense even native speakers of English seldom use, as in the sentence “By this time next week, we will have been living in Paris for two days.” In light of a leading current theory on second-language acquisition, at that time I was making maximal use of the third processor named Monitor, which is among the three processors  enabling us to acquire languages that Stephen Krashen and collaborators (1982) identified to interpret Noam Chomsky’s concept of “language organ” in the human brain (1965). The Monitor enabled me to consciously learn and master the rules of English grammar and long lists of English words, but it did not help me acquire fluency in spoken English at all. I had no opportunities to activate the second processor named Organizer, whose function is to help learners to subconsciously acquire fluency or automatic speech in an incidental manner, much like the way we all effortlessly acquired fluency in our native tongues. As to the first processor named Affective Filter, which serves as a gatekeeper for the language organ and determines the amount of language input to be admitted for processing based on the learner’s motivation level, it was in full cooperation with me: this sensitive and subconscious processor knew that I was a passionate student of languages!

 

My acquisition of English vocabularies was accelerated by my knowledge of French. These two languages share thousands of cognates, such as “république” and “republic” and “congrès” and “congress.” I just transferred them from French to English, paying attention to the differences in spelling and pronunciation and watching out for possible false cognates (known in French as “faux amis”). An example of false cognates between French and English is “demander” and “to demand”: the French verb “demander” actually means “to request” in English. Practitioners of English-Spanish bilingual education all agree that cognates (known in Spanish as “palabras afines”) are indeed a blessing in the classroom, in spite of a number of false ones, for example, while “constipated” means “having difficult evacuation of the bowels” in English, “constipado” means “suffering from a cold” in Spanish!

 

I graduated with honors from senior high school in the Summer of 1959 after having passed, with high scores, a battery of rigorous written and oral final examinations administered by the government. And right after that, without any vacation at all, I competed with hundreds of other high school graduates in a national all-English contest (similar in content to today’s SAT) conducted by the Saigon government and the USAID office to select 15 recipients of a prestigious four-year national “leadership scholarship” to study in the United States. Winning that national scholarship has been one of the proudest moments in my life, as it made my family extremely proud.

 

After several perfunctory orientation sessions on American culture and language at the newly-established Vietnamese-American Association in Saigon, I flew to America to start my college education at age 18. When the plane had a stopover in Honolulu for a couple of hours, I decided to take a walk in the terminal to stretch my legs. Alas, as soon as my feet hit the Hawaiian ground, I was overwhelmed by homesickness! I had never had that awful feeling before. And when I heard people around me speak nothing but English for the first time in my life, I felt eerily insecure. And just a few days afterwards I arrived at the university that I was to attend the next three years. Miami University had a breathtakingly beautiful campus, but I felt like a stranger in paradise. My homesickness became more intense in that gorgeous environment. And to my chagrin, it dawned on me that there was a vast difference between spoken English and written English, which was my forte. I also found out very soon that the textbook dialogues between two people in different real-life situations (at the post office, at the barbershop, in the hospital, and so on) that I had memorized “just in case” were of little help simply because  there were no Americans around that had memorized those same written dialogues! Using Jim Cummins’ popular terminologies for  second-language proficiency to characterize my situation back then, I would say that my “basic interpersonal communicative skills” (BICS) or “conversational English” was very weak and that my “cognitive academic language proficiency” (CALP) or “academic English”  also needed to improve very quickly so that I might be able to compete against native speakers in the classroom.

 

I did not even know how to respond when friendly Americans said “hi” to me; they must have thought I was either egregiously unfriendly or totally deaf. The embarrassing truth was that I had not been taught that “hi” was just another way of saying “hello” in America. My spoken English at that time  was idiosyncratic, archaic, flowery, unnatural, and therefore “un-American.”  It was the product of my translation skill and my use of anachronistic vocabularies and prescriptive grammatical rules which did not lend themselves to conversational English at all. In the terminologies of Ken Goodman, my way of learning English then was a total “personal invention” that had so little in common with “social convention” or the authentic way Americans use their language. My roommate Dick Welday was very friendly and sincere. A short time after we moved in, he said with a smile, “your English is unusual, but I still understand you.” That evening Dick invited a couple of friends to our room to meet me. (I guess he had told them about me and my idiosyncratic speech). After he had introduced them to me, he said, “Phap, tell us about the weather in Saigon when you left a few days ago.” Invoking my translation skill and my command of flowery vocabulary and textbook grammar, I responded, “My friends, when I took leave of my beloved fatherland, which is situated near the equator, the weather was scorchingly hot.” They looked puzzled but seemed to be intrigued by what they had just heard from a fellow freshman from Saigon. I felt uneasy, so I asked Dick to express what I had just told the group “the American way.” Laughing, he said, “when you left Saigon, it was hot like hell!” My goodness, he had just taught me a fantastic lesson in colloquial spoken American English: use “leave” instead of “take leave of” and the bold and powerful expression “like hell” as an intensifier! All the good stuff that I had never been exposed to before. Dick’s sentence is much more natural and expressive than mine, don’t you agree?

 

My first few weeks at Miami were daunting, as I had to cope with an agonizing homesickness and an inexplicable sense of vulnerability. I felt like a fish out of water, with everything around me going topsy- turvy. I also suddenly realized that my skin color, my height, my weight, and my accent made me stand out wherever I was on that virtually lily-white campus. In today’s educational jargon, I was suffering from “culture shock,” which is the painful stage of the “acculturation process.” I am sure many of you in the audience have also had this unpleasant experience. Learning is difficult when culture shock bogs you down, right?

 

Attending classes was no picnic for me throughout the first semester, either. It was impossible for me to take notes from the professors’ lectures because they spoke too fast and my listening comprehension ability left much to be desired. My face would light up whenever they wrote something on the chalkboard which I read and jotted down easily. I  really dreaded the first library-research assignment because I had never had that kind of experience before. I envied my American classmates who had done this many times in their secondary schools. Fortunately, the library staff was so kind to me and helped me with my needs. The first essay I wrote in my English Composition class taught me a big lesson, and that was “do not mess with English punctuation!”  I did everything right for that piece of writing except punctuation. I almost fainted when the paper was returned with a “D” in red ink on its front page. I spoke to the professor after class about my poor grade and he said, “you have murdered English punctuation.” He recommended that I take English punctuation much more seriously. Indeed, my innocent use of a much less standardized and enforced Vietnamese punctuation system to write that paper in English led to numerous “comma splices” and “run-on sentences,” which are serious violations of English rhetoric. In those days American professors were probably never trained in “contrastive rhetoric,” so they did not tolerate exotic writing styles and punctuation systems displayed by culturally diverse students.

 

I faced another linguistic handicap, and that was that Americans used too many idioms in their everyday speech whose meanings I frequently failed to get. I tended to give such idioms a literal meaning, which was  of course almost always wrong. Without being taught, how on earth could I ever have deciphered that “ break a leg” actually means “good luck” and “kick the bucket” is a colloquial way of saying “die”?  One beautiful Sunday morning I made a (Vietnamese-style) unannounced visit to a charming classmate whom I was very fond of at her dormitory. Lisa met me in the lounge and she was not too cheerful. Without make-up on, she looked older, pale and sickly. She blurted out, “Phap, I wish you had given me a ring before you came this morning.”  I thought she was talking about an engagement ring as a pre-requisite for that visit, so I pleaded innocently, “Lisa, we are both only 18. Why should we get engaged at such a young age?” Her face lit up because of my gross misunderstanding of her words, and smilingly she “taught” me, “Phap, you silly boy. What I meant was simply that you should have telephoned me before you stopped by this morning.” Needless to say, I apologized profusely for that terrible social blunder. Lisa was my chief source for colloquial American English and she also patiently explained to me the meanings of such American cultural notions as Valentine’s Day, Homecoming, and Dutch treat. That background knowledge (now known as “schema”) about American culture was absolutely important to me. I owe her a great linguistic and cultural debt. Through that fortunate experience, I am convinced that a second language is acquired effectively with the help of someone who speaks that language natively and who really cares about the learner. With that someone the lucky learner is never too shy or too tired to practice the new language. Affection is certainly helpful in second-language acquisition! Using today’s educational terminologies again, I would say that thanks to my frequent conversations  with Lisa I gradually “revised” my “personal invention” of English to make it more and more like Lisa’s language which authentically represented the “social convention.”

 

Those of us that have taught English in Third World countries know that the “grammar-translation” method is not quite dead. Students in those countries are still going through what I went through decades ago. And many of these students are now attending secondary schools and colleges in Texas. What should we do to help them if they are having language-related academic difficulties?

 

Convinced that making use of hindsight should be beneficial, let me suggest that we do for them what I wish had been done for me. We should understand their anxieties, their feelings of  inadequacy and vulnerability. We should be their advocates, especially during their culture shock period. Each lesson should contain activities that promote both conversational English (BICS) and academic English (CALP). BICS should be developed through meaningful practice of  indispensable language functions like greetings, expressing congratulations, offering condolences, declining an invitation, apologizing, and so on. CALP can be enhanced by formal instruction focusing on vocabularies and structures that are specific for each  and every content area. For instance, in mathematics, such vocabularies as “square root” and “least common denominator” and such structures as “five times as high” and “x is defined as a number greater than 7” ought to be taught to them until mastery. We should help develop their schemata of American culture. Encouraging them to talk and write about their native language and culture in English is a wonderful way to reassure their self-esteem, which is conducive to academic achievement. Writing in dialogue journals should be a regular activity, and we should faithfully respond to their journal entries. They will appreciate and value what we write back, as a form of personalized communication: our responses allow them to access “social convention” through our conventional spelling, diction, punctuation, and syntax. We should teach them the meanings of popular idioms in American English. To prevent them from making errors caused by rhetorical differences, we should teach them how to use the “writing process” in producing a text; this will keep them from writing English the “circular” way or ignoring the highly standardized and enforced American punctuation. And finally, let’s not penalize them for making errors caused by negative transfer in their early stage of developing English literacy; as a matter of fact, we should all have some knowledge about contrastive rhetoric so that we may help them more efficiently in the classroom.

 

Texas, like the rest of this great country, is educating an ever-growing number of English language learners. Our role as language educators is thus more and more crucial. I would like to close my remarks today with a Chinese proverb, and that is “liang shi xing guo” or “good teachers make the country prosperous.”

 

Thank you for your attention.

 

 

* Keynote speech by the author at the Texas Education Agency’s Sixth Annual Conference for Diverse Learners in Secondary Schools (June 28-29, 2001, Austin, Texas).

 

 

 

 

 

VÀI NÉT ĐẶC THÙ

TRONG CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT

Đàm Trung Pháp

Thuyết trình trong Hội ThảoVăn Hóa Việt Nam                                                                 

ngày 11 tháng 9 năm 2010                                                                                             

tại San Jose State University, California

 

Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi bá Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Tứ đưa ra thí dụ dưới đây:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,                                                                               

Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.                                                                       

Người quốc sắc kẻ thiên tài,                                                                                 

Tình trong như đã mặt ngoài còn e.                                                                              

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,                                                                                 

Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.                                                                      

Bóng tà như giục cơn buồn,                                                                               

Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.                                                            

Dưới cầu nước chảy trong veo,                                                                              

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

 

Rồi ông Tứ đặt câu hỏi và tự trả lời, để chứng minh cho “cái lợi của tính chất thiếu minh xác trong ngôn ngữ văn chương của ta”:

“Ai nhác thấy? Đành là Kim Trọng, nhưng không nói rõ, thì sao lại không có thể là cả chàng độc giả thư sinh nọ, cảm thông với chàng Kim một cái liếc nhìn? Chập chờn cơn tỉnh cơn mê là ai? Là người quốc sắc hay kẻ thiên tài? Hay cả hai? Luận ra thì biết, song trước khi lý luận, tại sao ta không có quyền nghĩ đến cả hai người? Bóng tà như giục cơn buồn: Nỗi buồn của ai vậy? Của Kim Trọng hay của Thúy Kiều, hay của hai người? Hay cũng là nỗi buồn của ta chăng? Và hai câu cuối: Dưới cầu … thướt tha có phải chỉ là cái tình của Thúy Kiều gửi vào trong cảnh ấy, hay còn phảng phất cả cái tình của người đọc sách nữa?”

Nhưng khi được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì các chủ ngữ vô hình bắt buộc phải xuất hiện. Nguyễn Văn Vĩnh (1943) thì cho rằng chủ ngữ của chập chờn cơn tỉnh cơn mê chính là nàng Kiều cho nên đã dịch câu ấy sang Pháp văn thành Kiều flottait entre le rêve et la réalité” và cũng cho rằng bóng tà như giục cơn buồn chỉ áp dụng cho nàng mà thôi, qua câu dịch “La descente du soleil vers l’horizon semblait provoquer chez elle un accès de mélancolie.” Bốn mươi năm sau (1983), Huỳnh Sanh Thông trong bản dịch sang tiếng Anh đã nghĩ khác ông Vĩnh trong hai ngữ cảnh nêu trên. Ông Thông dùng chủ ngữ số nhiều để gồm cả nàng Kiều và chàng Kim vào trong cơn tỉnh cơn mê ấy: They hovered, rapture-bound, ‘tween wake and dream” và không cho nàng Kiều độc quyền thấy cơn buồn đang bị bóng tà giục giã: “The dusk of sunset prompted thoughts of gloom.” Ông Tứ chắc hẳn tán đồng lối dịch của ông Thông hơn lối dịch của ông Vĩnh, vì ông Tứ cho rằng ông Vĩnh “đã hiểu vội vàng, và cũng bị lầm vì cái thiếu minh xác của ngôn ngữ.”

Đó là chuyện cũ. Hôm nay, tôi cũng xin chia xẻ cùng quý vị một chút văn chương của người bạn đồng môn tài hoa của tôi, nhà thơ Lưu Văn Vịnh*, trong đó chủ ngữ vắng mặt, nhưng tôi vẫn hiểu văn và thơ bạn tôi rất rõ, vì bạn tôi và tôi đều là người Việt. Thử hỏi trong hai câu lục-bát êm tai được trình bầy thành ba dòng sau đây trích từ thi tập Oang Oang Lòng Chén Rỗng (2007): “Kề vai ở chốn phong sương / Nhìn nhau đáy mắt / Đoạn trường hiện ra” thì ai và ai kề vainhìn nhau đáy mắt? Và trong tuyển tập Bốn Lần Leo Núi Tản (2000), có câu bạn tôi viết về chuyến thăm Bích Câu lưu loát trong sáng mà chẳng cần đến một đại từ nhân xưng (personal pronoun) đóng vai chủ ngữ nào cả: “Cuối thế kỷ, một ngày cuối năm, viếng Bích Câu như tới thăm giấc mơ của người xưa, tuy chẳng là cánh bướm, nhưng cứ bay vào những giấc mộng lớn giấc mộng nhỏ, thì giấc mộng lũy thừa nhân lên sẽ mông lung bằng cả cõi tiên vô tận …”  Khi đọc đoạn này tôi thấy như tôi đang được cùng nhà văn họ Lưu viếng Bích Câu, như thể chính bạn tôi và tôi đóng vai chủ ngữ cho các động từ “là”, “viếng”, và “bay” vậy.

Nói một cách chung chung, chủ ngữ tiếng Việt thường vắng mặt trong các trường hợp dưới đây:

Khi câu bắt đầu bằng một động từ hiện hữu như hoặc còn:

Có vấn đề rồi!

Còn nước còn tát.

Có người khách ở viễn phương. (Truyện Kiều)

Còn về còn nhớ đến người hôm nay. (Truyện Kiều)

 

Khi câu là một tục ngữ :

Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

 

Khi câu là một độc thoại :

Mệt quá rồi, nghỉ một chút. Lát nữa làm tiếp.

 

Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân mà chỉ ngữ cảnh mới có thể xác định ai là ai :

Đang làm gì đấy ?    –  Đọc sách.

Lãnh lương chưa ?   –  Lãnh sáng nay rồi.

 

Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân chưa xác định được mối liên hệ xưng hô phù hợp :

Đi đâu đấy mà đẹp thế kia ? Cho hỏi thăm một chút được không nào ?

 

Khi câu là một trả lời cho một câu hỏi thuộc dạng có/không (yes/no question) :

Anh có muốn nghỉ không ?   –  Muốn !

Bạn đã hiểu chưa ?   –  Hiểu rồi.

Ông Nam có chịu điều kiện đó không ?   –  Chịu mạnh đi chứ !

 

Khi câu là một lời ra lệnh :

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến

Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa. (Nguyên Sa)

 

Mối liên hệ lỏng lẻo giữa các mệnh đề

Một số mệnh đề độc lập có thể được viết kề cận nhau mà không thấy có những liên từ nối những mệnh đề ấy cho thêm rõ nghĩa, như trong các thí dụ sau đây :

Trời mưa to quá, vùng đất thấp dưới kia có thể bị ngập lụt.

Chúng tôi đến nơi, họ đang cãi nhau to tiếng, chúng tôi hết sức can ngăn nhưng chẳng ăn thua gì, chúng tôi bỏ về, lòng buồn vô hạn.

[Viết tiếng Anh theo kiểu Việt như trên thì chúng sẽ bị các giáo sư người Anh người Mỹ sổ toẹt, vì phạm lỗi run-on sentences. Tất cả là do có sự khác biệt tu từ (rhetorical difference) giữa tiếng Việt và tiếng Anh].

Tiếng Việt có đầy đủ các liên từ diễn tả các mối liên hệ giữa mệnh đề chính và phụ, như vì, bởi vì để chỉ lý do ; để, để cho để chỉ mục đích ; giá, giá mà để chỉ giả thiết ; nếu, nếu như để chỉ điều kiện, vân vân. Khác chăng thì tiếng Việt  có khuynh hướng ít dùng liên từ hơn là các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh. Nhưng, đây mới là một nghịch lý thú vị của tiếng Việt : Khi một liên từ được dùng cho mệnh đề phụ thì mệnh đề chính cũng có khuynh hướng sử dụng một tiểu từ để giữ quân bình cho cấu trúc  — tức là còn kỹ lưỡng hơn tiếng Pháp, tiếng Anh. Quả vậy, khi một câu phức tạp tiếng Việt bắt đầu bằng mệnh đề phụ sử dụng một trong các liên từ vì/tuy/nếu thì mệnh đề chính thường bắt đầu bằng một trong các “từ quân bình” (balance words) nên/nhưng/thì, như trong các thí dụ sau đây: (1a) nó kiêu ngạo, nên nó không có bạn. (2a) Tuy họ nghèo, nhưng họ rất hạnh phúc. (3a) Nếu anh yêu em thực lòng, thì anh phải cưới em ngay đi chứ !

Khuynh hướng kỹ lưỡng nêu trên cũng thấy trong văn chương bác học :

Dẫu chẳng phải ngọc ngà kỳ dị,                                                                       

Nhưng cũng trong ý nhị thanh tân.                                                                             

(Bần Nữ Thán)

 

Nếu thi gan với anh hùng thì thua.                                                                      

(Phan Trần)

[Nếu vô tình để khía cạnh cú pháp này của tiếng Việt ảnh hưởng lối viết tiếng Anh, người Việt chúng ta có khuynh hướng viết ra các câu bất cập sau đây: (1b) Because he is arrogant, so he has no friends. (2b) Although they are poor, but they are very happy. (3b) If you love me, then you must marry me at once!].

 

Tới đây tôi cần nói lên nhận xét là những người Việt chúng ta thông thạo tiếng Pháp hoặc tiếng Anh thường cho ảnh hưởng văn pháp hai thứ tiếng ấy vào tiếng Việt khiến cho câu văn tiếng Việt của họ đỡ bị chê là không có chủ từ, hoặc chủ từ mù mờ, hoặc thiếu phần mạch lạc vì tránh dùng liên từ trong câu phức tạp. Vì vậy, họ có khuynh hướng chuyển câu Trời mưa to quá, chúng tôi quyết định ở nhà  thành ra Vì trời mưa to quá, (cho nên) chúng tôi quyết định ở nhà và câu Các anh cười khúc khích làm em ngượng quá đi thành ra Cái cười khúc khích của các anh làm em ngượng quá đi.

 

Cấu trúc đề/thuyết (topic/comment)

Cấu trúc của một câu tối thiểu trong ngôn ngữ nào cũng gồm hai yếu tố là chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate). Chủ ngữ thông báo một đề (topic) và vị ngữ cung cấp một thuyết (comment) tức là một nhận định về đề ấy. Mối liên hệ chủ ngữ/vị ngữ và đề/thuyết được thấy rõ rệt trong các câu Trời/mưa Anh Tám/ mới lấy vợ hôm qua. Nhưng không phải lúc nào chủ ngữ cũng trùng hợp với đề đâu. Chẳng hạn trong câu (1) Chiếc xe này/chạy ngon lắm và (2) Chiếc xe này/tôi mua lâu rồi thì Chiếc xe này vừa là chủ ngữ vừa là đề trong câu (1), nhưng chỉ là đề và đóng vai túc từ cho động từ mua trong yếu tố thuyết của câu (2). Hơn nữa, đề luôn luôn xuất hiện ở đầu câu, trong khi chủ ngữ có thể xuất hiện ở đầu hoặc cuối câu (thí dụ, trong câu này thì chủ ngữ nằm ở cuối câu: Giữa rừng già xuất hiện một bầy voi).

Đề cũng có thể được coi như một “chủ ngữ tâm lý” trong câu vì nó sửa soạn trí tuệ cho sự đón nhận thông điệp của phần thuyết. Tiếng Nhật luôn luôn đánh dấu chủ ngữ và đề bằng các tiểu từ (particles) gawa, thí dụ:

Neko ga sakana o tabemashita.           

[Mèo (chủ ngữ) cá (túc từ) đã ăn = Mèo đã ăn cá.]

John wa san-nen-sei desu. 

[John (đề) tam-niên-sinh là = Còn về John, thì anh ấy là sinh viên năm thứ ba.]

 

Tiếng Việt cũng có khuynh hướng dùng cấu trúc đề/thuyết, với tiểu từ thì đánh dấu cấu trúc này, như thí dụ dưới đây:

Chị Ba luôn buồn bã. Chồng chị thì / lúc nào cũng vui.

 

Ngoài ra cũng có các cách giới thiệu cấu trúc đề/thuyết sử dụng các phương tiện từ vựng và cú pháp đặc thù như trong các câu thí dụ sau đây:

Cái anh chàng ấy hả / trời ơi, keo kiệt lắm đấy!

Tám Mập và Út Sẹo có lấy nhau không / xin xem hồi sau sẽ rõ.

Riêng tôi / tôi rất mê những bài ca vọng cổ.

 

Nỗi nàng / tai nạn đã đầy                                                                                        

Nỗi chàng Kim Trọng / bấy chầy mới thương                                                       

(Truyện Kiều)

 

Áo nàng vàng / tôi về yêu hoa cúc                                                                           

Áo nàng xanh / tôi mến lá sân trường                                                                    

(Nguyên Sa)

 

Có lẽ vai trò “chủ ngữ tâm lý” của yếu tố đề trong cấu trúc đề/thuyết đã giúp tiếng Việt vẫn dễ hiểu bất kể các nhược điểm như chủ ngữ thiếu vắng hoặc mù mờ và sự lỏng lẻo trong mối liên hệ giữa các mệnh đề như đã giải thích ở trên. Riêng trong thể lục-bát của thi ca Việt Nam, câu lục thường đóng vai đề và câu bát đóng vai thuyết, như trong các câu thơ sau đây:

Trăm năm trong cõi người ta (đề)

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (thuyết)

(Truyện Kiều)

 

Trước đèn xem truyện Tây Minh (đề)

Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le (thuyết)

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe (đề)

Dữ răn việc trước, lành dè thân sau (thuyết)

(Lục Vân Tiên)

 

Và qua nhận định này, đồng môn Lưu Văn Vịnh* của tôi cũng đã sử dụng cú pháp đề/thuyết khi viết câu hai câu lục-bát êm tai nhưng cũng đượm mầu bi quan của anh:

Kề vai ở chốn phong sương (đề)

Nhìn nhau đáy mắt đoạn trường hiện ra (thuyết)

 

Tài liệu tham khảo

Đoàn Phú Tứ (1949). “Đi Tìm Chủ Từ Trong Vài Đoạn Văn Đoạn Trường Tân Thanh.” In trong sách Nguyễn Du: Về Tác Giả Và Tác Phẩm (1999). Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Việt Nam.

Hà Như Chi (1970). Việt Nam Thi Văn Giảng Luận. Nhà Xuất Bản Sống Mới, Saigon.

Huỳnh Sanh Thông (1983). The Tale of Kiều. Yale University Press, New Haven and London.

Nguyễn Đình Hòa (1997). Vietnamese – Tiếng Việt Không Son Phấn. John Benjamins Publishing Company, Amsterdam and Philadelphia.

Nguyên Sa (2000). Thơ Nguyên Sa Toàn Tập. Nhà Xuất Bản Đời, Irvine, California.

Lưu Văn Vịnh (2000). Bốn Lần Leo Núi Tản. Hạ Long Thư Các, Elridge, California.

Lưu Văn Vịnh (2007). Oang Oang Lòng Chén Rỗng. Ổ Văn Hạ Long, Elridge, California.

*Nhà thơ Lưu Văn Vịnh và tác giả bài này ngồi cạnh nhau trong lớp Đệ Tam C (ban văn chương) tại Trung Học Chu Văn An suốt niên học 1957-1958. Ông cũng là một diễn giả trong hội thảo văn hóa này mà ông và một số văn hữu đứng ra tổ chức tại thư viện San Jose State University, California.

ĐỌC LẠI TRUYỆN KIỀU

ĐỂ YÊU THÊM TIẾNG VIỆT

 

Đàm Trung Pháp

 

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã nổi hứng rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết  cuốn truyện tình bi đát mang tên Die Leiden des jungen Werthers (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết Atala, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân  bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ Lyrical Ballads, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

 

A violet by a mossy stone

Half-hidden from the eye

Fair as a star, when only one

Is shining in the sky

 

Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh).  Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị ngoại quốc kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.

 

Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm thủ tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là tiến sĩ Nguyễn Khản, thượng thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm trấn thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu tam trường (tú tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi hương (cử nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.

 

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.

 

Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ?  Đúng là:

 

Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

 

Nội dung TK gồm 3254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần:  (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

 

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

 

Những  phân đoạn chính trong TK như sau:  Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố , (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2):  (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho

em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3):  (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri , (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.

 

Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.

 

PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và  văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).

 

NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được… Tôi xin nói quyết một lời rằng Mong được một quyển truyện nào hay hơn Truyện Kiều là mộng tưởng. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi.” Nhận định về câu thơ thuộc loại văn hữu dư ba là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành,” Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc.  Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

 

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

 

Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

 

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

 

Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

 

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

 

Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!

 

VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “TK thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa … Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là Thần Thơ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như :

 

Thưa rằng đừng lấy làm chơi

Rẽ cho thưa hết một lời đã nao

 

Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ  “còn”  trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

 

Còn non, còn nước, còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay

 

Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:

 

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!

 

Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:

 

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

 

Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

 

Phòng văn hơi giá như đồng

Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan

 

Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai – vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

 

Mành tương phân phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

 

LƯU TRỌNG LƯ:  Để đáp lễ lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất  là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại … Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít…” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như:

 

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”

 

ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta.” Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký … viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.

 

TRẦN TRỌNG KIM: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

 

Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa

 

Mã Giám Sinh:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

 

Tú Bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

 

Sở Khanh:

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng

 

Từ Hải:

Râu hùm hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”

 

HOÀI THANH: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ say Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Ông nghè lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì  theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây… Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào … TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống…”

 

NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18”  xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc  có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây: Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

 

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

 

là rút ra từ câu ca dao:

 

Tiễn đưa một chén rượu nồng

Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi

 

Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như :

 

Xót thay huyên cỗi xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Chốc đà mười mấy năm trời

Còn ra khi đã da mồi tóc sương

 

ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :

 

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

 

hoặc:

 

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao

 

Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách lẩy hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của TK:

 

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần

 

Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:

 

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

 

Hai câu:

 

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

 

thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:

 

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai

 

Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm Truyện Kiều  thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật chăm chú để càng yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?

 

 

ĐẠI THI HÀO LÝ BẠCH  

TRONG TÂM TƯ NGƯỜI ÂU-MỸ

 

Đàm Trung Pháp

 

Vì lý do thực tế, những đoạn trích dẫn thi ca Lý Bạch trong bài viết này sẽ được ghi theo lối phát âm Hán Việt quen thuộc của chúng ta, thay vì bằng phương thức “pinyin” (phanh âm) để ghi âm quan thoại. Đây cũng là một điều lợi, vì lối phát âm Hán Việt vốn gần gũi với lối phát âm chữ Hán đời Đường. Để thêm hứng thú cho độc giả, xen kẽ vào giữa các bài hoặc đoạn thi ca trích dẫn của Lý Bạch và phần  chuyển sang tiếng Anh là những bài hoặc đoạn chuyển sang tiếng Việt của các dịch giả lừng danh. Người Âu-Mỹ thường chỉ đọc thơ Trung Quốc qua các bản dịch sang ngôn ngữ của họ.

 

**********************

 

Trong số các thi hào Trung Quốc, có lẽ Lý Bạch (701-762) đời nhà Đường là người được các dịch giả Anh-Mỹ chiếu cố đến nhiều nhất. Lý do chính của sự thiên tư này rất có thể là vì thơ họ Lý không mang nặng bản chất uyên bác với nhiều điển tích lòng thòng phức tạp. Thực vậy, “giản dị” và “dễ cảm thông” là hai đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Lý Bạch, theo nhận định của giáo sư James Hargett, hiện dạy văn chương Á châu tại State University of New York . Trong bài “The Poetry of Li Bo” trong cuốn Great Literature of the Eastern World (Ian McGreal hiệu đính, Harper Collins xuất bản năm 1996), Hargett trích bài tuyệt cú “Tĩnh Dạ Tứ”, do Arthur Cooper bên Anh Quốc chuyển ngữ năm 1973, để chứng minh nhận định ấy:

 

Sàng tiền khán nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

 

Đầu giường chợt thấy bóng trăng,

Mập mờ trên đất, ngỡ rằng sương sa.

Ngửng đầu trông vẻ gương nga,

Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn.

(Dịch giả Trần Trọng Kim)

 

Before my bed there is bright moonlight

So that it seems like frost on the ground:

Lifting my head I watch the bright moon,

Lowering my head I dream that I’m home.

 

Hai đặc trưng dễ mến ấy cộng thêm những ý niệm cận kề với con tim nhân loại (như khi cô đơn, ta hiểu thế nào là yên tĩnh; đôi khi ta ân hận đã xa nhà và những người thân yêu; và thế giới đổi thay, tiền tài danh vọng có nghĩa gì đâu, tại sao không tận hưởng ngày xuân nhỉ) đã khiến Hargett và nhiều người khác bên trời Âu-Mỹ mến mộ thơ Lý Bạch. Giáo sư  Stephen Owen hiện dạy văn chương Trung Quốc tại Harvard và đã dịch nhiều thơ Tàu sang Anh ngữ rất chuộng bài “Tương Tiến Tửu” của họ Lý mà trong đó luận đề “carpe diem” (tương đương với “xuân bất tái lai”) vốn không xa lạ gì với người phương tây, được ngợi ca tuyệt vời. Trong một tuyển tập đồ sộ các tuyệt tác phẩm văn học hoàn cầu đang được dùng trong nhiều đại học Hoa Kỳ mang danh The Norton Anthology of World Materpieces (Volume I, do Maynard Mack hiệu đính, Norton xuất bản năm 1995), Owen đã dịch đoạn đầu của bài thơ theo thể nhạc phủ hào phóng và tráng lệ ấy (“Bring in the Wine”) như sau:

 

Quân bất kiến

Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Quân bất kiến

Cao đường minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ty mộ thành tuyết.

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

Mạc sử kim tôn không đối nguyệt ….

 

Thấy chăng ai:

Nước sông Hoàng xuống tự trời kia,

Chảy mau ra biển, chẳng quay về.

Thấy chăng ai:

Gương sáng nhà cao, thương tóc bạc,

Sớm tựa tơ xanh, chiều thành tuyết.

Ở đời đắc ý cứ vui chơi,

Chớ để chén vàng trơ dưới nguyệt …

(Dịch giả Trần Trọng San)

 

Look there !

The waters of the Yellow River,

coming down from Heaven,

rush in their flow to the sea,

never turn back again.

Look there !

Bright in the mirrors of mighty halls

a grieving for white hair,

this morning blue-black strands of silk,

now turned to snow with evening.

For satisfaction in this life

taste pleasure to the limit,

And never let a goblet of gold

face the bright moon empty ….

 

Một bài nhạc phủ nữa rất được phương tây ngợi ca là bài “Thục Đạo Nan” trong đó Lý Bạch dùng ngôn từ khuếch đại và giọng văn khẩn trương để dựng lên một cảnh trí cực kỳ sinh động khiến người đọc phải choáng váng, theo nhận định của Hargett. Quả thực, trong cảnh trí ấy – với những con đường cheo leo nguy hiểm chỉ có chim mới bay qua nổi, đất lở, núi xụp, thác chảy, ban mai phải lánh cọp dữ, buổi chiều phải tránh rắn dài – người đọc không thể không đồng ý với thi bá họ Lý rằng:

 

Y hu hy, nguy hồ, cao tai,

Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên !

 

Nay xét lại cho kỹ, Lý Bạch chẳng ngoa chút nào, vì con đường từ Trường An (Changan) kinh đô văn vật đời Đường, nay gọi Tây An (Xian) thuộc tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi), sang đất Thục nay là tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), phải vượt dẫy núi Tần Lĩnh (Qinling) hiểm trở. Ngày nay muốn vào thủ phủ của Tứ  Xuyên là Thành Đô (Chengdu), du khách phải vượt đoạn đường chông gai dài hơn 400 dặm với trên 300 đường hầm xuyên núi và gần 1000 cây cầu cheo leo !  Cô ký giả Shirley Sun trong cuốn Journey into China (do National Geographic Society xuất bản năm 1982)   đã dịch dùm du khách tây phương hai câu thơ lẫy lừng nêu trên của Lý Bạch như thế này:

 

Eheu ! How dangerous, how high !

It would be easier to climb to Heaven

Than walk the Sichuan Road !

 

Kể từ khi dịch giả Arthur Waley cho ra đời cuốn sách One Hundred and Seventy Chinese Poems vào năm 1918 tại Luân Đôn, phương tây bắt đầu chú ý đến những đại danh như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị. Những bài thơ dịch xuất sắc của Waley đã ảnh hưởng đến một số thi nhân Âu-Mỹ, nhất là hai tên tuổi lớn William Butler Yeats và Ezra Pound. Gần đây hơn, năm 1987, dịch giả Greg Whincup người Gia Nã Đại đã cho ra mắt cuốn The Heart of Chinese Poetry  (nhà xuất bản Anchor Books), trong đó có 10 bài thơ Lý Bạch. Trong lời nói đầu của cuốn sách chứa đựng 57 bài thơ dịch, Whincup thiết tha tâm sự : “Thi ca được coi là nữ hoàng của nghệ thuật cổ truyền Trung Hoa, và những thi nhân tài hoa nhất mọi thời đại đều vang rền tên tuổi. Vì chúng ta là thành phần của cùng một nhân loại, văn  hóa Trung Hoa cũng là văn hóa chúng ta. Trái tim thi ca Trung Hoa cũng đập trong lòng chúng ta nữa ….”

 

Người phương tây muốn học chữ Hán qua thi ca chắc chắn sẽ hài lòng với cuốn sách của Whincup. Ngoài các bài dịch sang Anh ngữ rất chỉnh, cuốn sách còn cho các bài thơ ấy hiện lên bằng chữ Hán phồn thể, cộng với lối phát âm quan thoại (theo ký hiệu phiên âm của Đại học Yale), và nhất là những lời chú giải khá hấp dẫn của dịch giả. Mười bài thơ họ Lý được Whincup cho vào tuyển tập là các bài “Sơn Trung Vấn Đáp”, “Tống Hữu Nhân”, “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”, “Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng”, “Hoành Giang Từ”, “Tự Khiển”, “Tảo Phát Bạch Đế Thành”, “Xuân Tứ”, “Ngọc Giai Oán”, và “Thính Thục Tăng Tuấn Đàn Cầm.”

 

Theo Whincup, Lý Bạch là người tài hoa trác tuyệt nhất trong các thi nhân Trung Quốc, có thể ví như một thần linh, một động lực của thiên nhiên không chấp nhận một bó buộc nào của nhân sinh mà chỉ thích làm thơ, uống rượu, vui với trăng sao và bè bạn. Whincup đã khéo lựa những bài tuyệt tác của Lý Bạch để minh chứng cho nhận định của mình về thi ca vị thần thơ ấy. Dưới con mắt Whincup, bài ngũ ngôn bát cú “Tống Hữu Nhân” thực kiệt xuất về cả hình thức lẫn nội dung:

 

Thanh sơn hoành bắc quách,

Bạch thủy nhiễu đông thành.

Thử địa nhất vi biệt,

Cô bồng vạn lý chinh.

Phù vân du tử ý,

Lạc nhật cố nhân tình.

Huy thủ tự tư khứ,

Tiêu tiêu ban mã minh.

 

Chạy dài cõi Bắc non xanh

Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.

Nước non này chỗ đưa nhau

Một xa muôn dặm biết đâu cánh bồng.

Chia phôi khác cả mối lòng

Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà,

Vẫy tay thôi đã rời xa

Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo!

(Dịch giả Tản Đà)

 

Green mountains

Lie across the northern outskirts

Of the city.

White water

Winds around the eastern

City wall.

Once we make our parting

Here in this place,

Like a solitary tumbleweed

You will go

Ten thousand miles.

Floating clouds

Are the thoughts of the wanderer.

Setting sun

Is the mood of his old friend.

With a wave of the hand

Now you go from here.

Your horse gives a whinny

As it departs.

 

Yếu tố cân đối song hành (parallelism), vốn hiếm thấy trong thi ca tây phương, làm cho bài thơ rực sáng, chẳng hạn mỗi chữ trong câu 1 có một chữ đối ứng hoàn mỹ trong câu 2:

 

Thanh (Green) // Bạch (White)

Sơn (Mountains) // Thủy (Water)

Hoành (Lie across) // Nhiễu (Winds around)

Bắc (Northern) // Đông (Eastern)

Quách (Outskirts) // Thành (City wall)

 

Những hình ảnh chất ngất cảm xúc đối ứng nhau trong câu 5 và 6 (Phù vân // Lạc nhật) chính là trái tim của bài thơ, và hai câu chót dẫn người đọc chơi vơi đến phút chia tay.

 

Giáo sư Stephen Owen trong cuốn sách An Anthology of Chinese Literature: Beginning to 1911 (do chính ông hiệu đính và dịch thuật, Norton xuất bản năm 1996) đã nhận định Lý Bạch như “một nghệ sĩ với những cử chỉ và khoa trương lớn hơn cả đời sống” (“a performer whose gestures and claims were larger than life”). Những nền văn minh lớn thường được xây dựng trên sự tiết chế của người dân, và do đó, như thể để  được đền bù, họ dễ bị thu hút bởi những bậc tài danh đứng ngoài vòng kiềm tỏa của quy ước xã hội. Theo Owen, cái cử chỉ “đứng ngoài vòng”  rất ngông ấy của họ Lý, phản ánh trong thơ như một chân dung tự họa, đã khiến thơ Lý Bạch càng thêm hấp dẫn. Điển hình là bài “Nguyệt Hạ Độc Chước” (“Drinking Alone by Moonlight”) mà Owen chuyển ngữ dưới đây:

 

 

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc chước vô tương thân.

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân.

Nguyệt ký bất giải ẩm,

Ảnh đồ tùy ngã thân.

Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

Hành lạc tu cập xuân.

Ngã ca nguyệt bồi hồi,

Ngã vũ ảnh linh loạn.

Tinh thời đồng giao hoan,

Túy hậu các phân tán.

Vĩnh kết vô tình du,

Tương kỳ mạc Vân Hán.

 

Trong hoa rượu ngọt một bầu,

Một mình chuốc chén có đâu bạn bè.

Mời trăng cất chén kè nhè,

Thân ta, bóng ấy, trăng kia, ba người.

Trăng thì tiếp rượu không nguôi,

Bóng ta theo mãi không rời thân ta.

Bạn cùng trăng bóng vẩn vơ,

Vui chơi khuây khỏa để chờ ngày xuân.

Ta ca trăng cũng băn khoăn,

Khi ta nhảy múa, bóng lăn lộn hoài.

Cùng nhau khi tỉnh vui cười,

Say rồi nghiêng ngửa, mọi nơi rạc rời.

Vô tình giao kết chơi bời,

Hẹn nhau ở chỗ xa khơi cõi trời.

(Dịch giả Trần Trọng Kim)

 

Here among flowers one flask of wine,

with no close friends, I pour it alone.

I lift cup to bright moon, beg its company,

then facing my shadow, we became three.

The moon has never known how to drink;

my shadow does nothing but follow me.

But with moon and shadow as companions the while,

this joy I find must catch spring while it’s here.

I sing, and the moon just lingers on;

I dance, and my shadow flails wildly.

When still sober we share friendship and pleasure,

then, utterly drunk, each goes his own way –

Let us join to roam beyond human cares

and plan to meet far in the river of stars.

 

Và rồi sau cùng, cả đến cái chết ôm trăng của Lý Trích Tiên, tuy huyễn hoặc, nhưng cũng nên thơ làm sao trong tâm tư người phương tây !  Quả vậy, theo lời giáo sư James Hargett, một Lý Bạch lịch sử và một Lý Bạch huyền sử sẽ muôn đời là một, và điều này chỉ làm gia tăng mức hấp dẫn cho vị “thi tiên” ấy mà thôi.

 

 

 

 

FASCINATING  SIMILARITIES AMONG WORLD PROVERBS

Dr. Phap Dam, Professor                                                                                                                   

Texas Woman’s University

 

Messages of practical wisdom

Every language has popular short simple sayings that express sharp observations about life. The name of these folk sayings is proverb in English, tục ngữ in Vietnamese, suyu in Chinese, proverbe in French, dicho in Spanish, proverbio in Italian, and Sprichwort in German. A proverb is cogently defined by Crystal (1997, p. 435) as “a short, pithy, rhythmical saying expressing a general belief.” With their ability to succinctly express life experience and make language more appealing, proverbs play an important role in daily communication. The most fascinating feature among world proverbs is the similarity in their practical wisdom. For instance, the sayings Yêu ai yêu cả đường đi in Vietnamese, Love me, love my dog in American English, and Ai wu ji wu ( ) in Chinese expound the “halo effect,” an undeniable psychological truth. Only their ways of expressing this truth differ. The poetry-loving Vietnamese talk about someone they love and the road that bears that person’s footprints — if you love someone, you also love that road. The Mandarin Chinese saying Ai wu ji wu plays on the homophonous pair wu () and wu (), with the first one meaning “house” and the second one meaning “crow” – if you love a certain house, you also love the crows that perch on its roof.

 

Universality of  life experiences

When comparing the contents of world proverbs, we will find plenty of similarities due to the universality of life experiences, as Hirsch, Kett, and Trefil (1988, p. 46) put it, “Proverbs reflect the accumulated wisdom, prejudices, and superstitions of the human race.” Thus, to advise people not to act too fast, a Vietnamese proverb says Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá mà quàng phải dây? (Where are you going in such a hurry that you stumble on stones and get ensnared in vines?) Offering the same advice are the following sayings: More haste less speed; Plus on se hâte moins on avance (French: The more one hurries the less one advances); Chi va piano va lontano (Italian: Who goes slowly goes far); and Yu su ze bu da  ( ) (Chinese: Haste does not get you there).

 

It is only natural that contents in proverbs in related languages (e.g., English and German) are often virtually identical. Thus, the English saying Rob Peter to pay Paul and the German counterpart Dem Peter nehmen und dem Paul geben sound almost like each other’s word-for-word translation. However, as a native speaker of Vietnamese, which is totally unrelated to English, the author is thrilled to find the semantic parallelism among the contents of such proverb pairs as Được đằng chân lân đằng đầu (When they get to your feet they will want to get to your head) and Give him an inch and he will take a mile; Gieo gió gặp bão (Sow the wind and harvest the storm) and Sow the wind and reap the whirlwind; and Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm  (The twisted-mouthed flounder ridicules the mussel’s warped mouth) and The pot calling the kettle black.

 

Typical structure of proverbs

Structurally speaking, numerous world proverbs share the fact that they are made up of two components that offer a euphonious syntactic and prosodic parallelism. For instance, Out of sight, out of mind displays the same construction as the following world proverbs: Xa mặt, cách lòng ; Loin des yeux, loin du coeur (French: Away from eyes, away from heart); Aus den Augen, aus dem Sinn (German: Out of eyes, out of mind); Ojos que no ven, corazón que no siente (Spanish: Eyes that do not see, heart that does not feel); and Lontano dagli occhi, lontano dal cuor (Italian: Far from the eyes, far from the heart).

 

Promoting morality

Among proverbs promoting morality, the straightforward English Honesty is the best policy stands out. Its message complements that of the Vietnamese Khôn ngoan chẳng ngoại thật thà (Honesty transcends wisdom). Reminding people of the fact that the company they keep can tell a lot about themselves are the Chinese Niu xun niu ma xun ma ( ) (Oxen look for oxen, horses look for horses), the English Birds of a feather flock together, the French Dis-moi qui tu hantes et je te dirai qui tu es (Tell me who you frequent, and I will tell you who you are), the Spanish Cada cual con los suyos (Each one with its own kind), the German Gleich und gleich gesellt sich gern (Like and like associate well), and the Italian Dio li fa e poi li appaia (God creates them and then matches them). World proverbs warn people not to laugh at other people’s plight because what goes around certainly comes around, according to the Vietnamese Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười (Don’t laugh at other people too long; you laugh at them the day before and they will laugh at you the next day). The warning is more succinct in English: He laughs best who laughs last, in Italian: Ride bene che ride l’ultimo (Who laughs last laughs well), and in French:  Rira bien qui rira le dernier (Who will laugh last will laugh well).

 

Providing practical advice

Proverbs reflect daily living and offer wisdom for people as they cope with life. Give-and-take is expected in relationships, as suggested by the down-to-earth English saying You scratch my back, I’ll scratch yours and the Vietnamese equivalent  Có đi có lại mới toại lòng nhau (Reciprocation pleases both sides). The power of money is clearly expressed by the proverb Money talks, which has the Chinese counterpart Duo jin yin po lu li ( ) (Big money breaks the law) and the Vietnamese Nén bạc đâm toạc tờ giấy (A bar of silver tears up a document). Being discreet is a safety device, because Walls have ears, an English proverb whose practical wisdom is found verbatim in the Vietnamese Tai vách mạch rừng, the Chinese Ge qiang you er ( ), the French Les murs ont des oreilles, the Italian I muri hanno orecchi, and the German Die Waende haben Ohren. It is no shame to avoid violent behavior by senseless people, as suggested by the Spanish maxim Al loco y al toro darles corro (To a crazy person and to a bull, be ready to yield) or the Vietnamese Tránh voi chẳng xấu mặt nào (It is no shame at all to dodge an elephant).

 

Proverbs understand human psychology and therefore can provide people with down-to-earth advice. The Vietnamese adage Sự thật mất lòng is a word-for-word expression of its English counterpart Truth hurts. Because truth hurts, an astute piece of advice is offered by the French saying Toute vérité n’est pas bonne à dire (Not every truth is good to tell). Sweet-talking goes a long way, and it costs nothing according to the Spanish Cortesía de boca vale mucho y poco cuesta (Courtesy of the mouth has much value and costs little). Additional wisdom is provided by the Vietnamese Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau (Words do not have to be bought with money; select them carefully to please the listener). Count on what you have in hands only is the wisdom of the English saying A bird in the hand is worth two in the bush, the Vietnamese Một con nằm trong tay hơn mười con bay trên trời (One bird in the hand is better than ten flying in the sky), the Italian Meglio un uovo oggi che una gallina domani (An egg today is better than a hen tomorrow), and the German Ein Spatz in der Hand ist besser als eine Taube auf dem Dach (A sparrow in the hand is better than a pigeon on the roof). Once injured, people may become paranoid and avoid situations that remind them of the previous mishap. Reflecting this psychological fact is the metaphorical Chinese saying Jing gong zhi niao jian qu mu er gao fei ( ) (The bow-fearing bird flies high upon seeing a bent tree branch). This thought is expressed more directly in English as Once bitten, twice shy; in French as Chat échaudé craint l’eau froide  (Burned cat fears cold water); in Spanish as Gato escaldado del agua fría huye (Burned cat flees from cold water); and in German as Gebrannte Kinder scheuen das Feuer (Burned children fear the fire).

 

Providing hope and optimism

Proverbs also provide mankind with hope. Indeed, life is not always tough, as the English saying After a storm comes a calm implies. This optimism is expressed in Chinese as Ku jin gan lai ( ) (After bitterness comes sweetness); in French as Après la pluie, le beau temps (After the rain, beautiful weather); and in Vietnamese as Sau cơn mưa trời lại sáng (After the rain, the sun shines again). When the sun shines again and people get another opportunity in life, they should take prompt action, as advised by the English proverb Strike while the iron is hot or the Vietnamese Cờ đến tay phải phất (When the flag is in your hand, do not fail to wave it). But when striking the hot iron or waving the flag, they should remember the importance of solidarity, which is expressed so clearly by the French proverb Une hirondelle ne fait pas le printemps (One swallow does not make a spring) or the Chinese Gu shu bu cheng lin ( 不成 ) (One single tree does not make a forest).

 

Educational values

World proverbs are an appealing source for discussing (both orally and in writing) about life from multiple cultural perspectives. The study of world proverbs has the potential to get parents, grandparents, community members involved in the students’ education, making it more significant and authentic. Comparing world proverbs enhances the students’ understanding of the universality of human behaviors and thus may turn the multicultural, multilingual classroom into a more accepting environment for all students. This humanistic educational activity also helps develop students’ divergent thinking skill as well as improve their cross-cultural communication.

 

References

Betteridge, H.T. (1978). Cassell’s German dictionary. NY: Macmillan Publishing

Company.

Crystal, D. (1997). The Cambridge encyclopedia of language (2nd ed.).

NY: Cambridge University Press.

Girard, D., Dulong, G., Van Oss, O., & Guinness, C. (1981). Cassell’s French

          Dictionary. NY: Macmillan Publishing Company.

Hirsch, E.D., Kett, J.F., & Trefil, J. (1988). The dictionary of cultural literacy.

          Boston: Houghton Mifflin.

Lin, M., & Leonard, S. (1998). Dictionary of 1000 Chinese proverbs.

NY: Hippocreene Books.

MacHale, C. (1984). VOX new college Spanish and English dictionary.

          Lincolnwood, IL: National Textbook Company.

Rebora, P., Guerico, F.M., & Hayward, A.L. (1967). Cassell’s Italian dictionary.

          NY: Macmillan Publishing Company.

Titelman, G. (2000). Random House dictionary of America’s popular proverbs

          and sayings (2nd ed.). NY: Random House, Inc.

Vu, N.P. (2000). Vietnamese proverbs, popular sayings, and folk songs.

Hanoi: Van Hoc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG CHUỖI LIỆT KÊ TRONG THƠ

 JACQUES PRÉVERT VÀ NGUYÊN SA

 

Đàm Trung Pháp

Hai nhà thơ cận đại mà tôi ái mộ là Jacques Prévert (1900-1977) và Nguyên Sa (1932-1998). Hai thi sĩ này giống nhau ở chỗ họ sử dụng tài tình những chuỗi liệt kê (énumérations) trong thơ để làm sáng tỏ tối đa nội dung.  Đó là lối viết lớp lang trong trật tự, điển hình như trong câu ca dao quen thuộc “một thương tóc bỏ đuôi gà, hai thương ăn nói mặn mà có duyên, ba thương má lúm đồng tiền” của chúng ta.  Tôi võ đoán Prévert đã ảnh hưởng không ít đến Nguyên Sa khi nhà thơ này du học tại Paris vào những năm đầu thập niên 1950. Nếu những bài thơ tình dễ đọc và dễ cảm thông như những lời nói thường ngày khiến Prévert lẫy lừng danh tiếng bên Pháp thì những bài thơ tình trinh nguyên đẹp như mơ của Nguyên Sa cũng đã mang lại cho ông rất nhiều người ái mộ tại Việt Nam.

 

Một trong những bài thơ Prévert mà tôi thích nhất là bài rất ngắn mang tên Paris at night (vâng, đề tài bài thơ tiếng Pháp này lại là tiếng Anh).  Bài thơ ấy gọn và chính xác như một lệnh hành quân, thứ tự lớp lang đâu vào đấy khiến người đọc không còn phải thắc mắc gì nữa về nội dung của nó. Vai trò của ba que diêm lần lượt được nhà thơ đốt lên trong bài thơ  nói về cuộc sống ban đêm ở Paris rõ rệt lắm. Que thứ nhất để ta nhìn mặt em trọn vẹn, que thứ hai để ta chiêm ngưỡng đôi mắt em, và que chót để ta ngắm miệng em. Sau đó là bóng tối hoàn toàn để ta nhớ lại tất cả những điều ấy trong khi ta ôm chặt em trong vòng tay ân ái. Với dàn bài là một tràng kể lể, ngôn ngữ dân gian, cú pháp đơn giản, và ý thơ khiêu khích, Paris at night không những chỉ là một tuyệt tác, mà theo tôi (một nhà giáo ngôn ngữ thuộc loại méo mó nghề nghiệp) còn là một tài liệu giáo khoa thượng thặng cho những ai muốn trau giồi tiếng Pháp:

 

Trois allumettes une à une allumées dans la nuit

La première pour voir ton visage tout entier

La seconde pour voir tes yeux

La dernière pour voir ta bouche

Et l’obscurité tout entière pour me rappeler tout cela

En te serrant dans mes bras

 

Nguyên Sa cũng có những bài thơ kể lể trong lớp lang như Prévert vậy, chẳng hạn như bài Năm ngón tay, với ngôn từ và cú pháp giản dị tối đa và lời kết là một hờn mát dành cho chủ nhân của bàn tay ngà nào đó:

 

Trên bàn tay năm ngón

Có ngón dài, ngón ngắn

Có ngón chỉ đường đi

Có ngón tay đeo nhẫn

Ngón tay tô môi

Ngón tay đánh phấn

Ngón tay chải đầu

Ngón tay đếm tiền

Ngón tay lái xe

Ngón tay thử coóc-sê

Ngón tay cài khuy áo

Em còn ngón tay nào

Để giữ lấy tay anh?

 

Vẫn dùng phương thức liệt kê, trong bài Alicante Prévert tổng kết những chi tiết buổi ái ân với một kiều nữ như sau: một trái cam trên bàn, quần áo nàng trên thảm, nàng trên giường ta, quà tặng ngọt ngào cho hiện tại, rượi mát ban đêm, nóng bỏng đời ta. Người đọc tinh ý sẽ thấy câu thơ số 4 là một cách “nói nhịu” (contrepèterie) tài tình cắt nghĩa câu thơ số 1, câu 5 cắt nghĩa câu 2, và câu 6 cắt nghĩa câu 3:

 

Une orange sur la table

Ta robe sur le tapis

Et toi dans mon lit

Doux présent du présent

Fraicheur de la nuit

Chaleur de ma vie

 

Một chuỗi liệt kê những câu phức hợp bắt đầu bằng những mệnh đề phụ chỉ điều kiện, đi đôi với ngôn từ khuếch đại, làm cho bài Gọi em của Nguyên Sa thực khó quên. Đây là những lời thi nhân cuống quít muốn nói với cô bạn gái mà “một buổi sáng tỉnh dậy” chàng đã thấy ra khỏi vòng tay mình:

 

Tôi bảo rằng: em phải về ngay.

Nếu em là gió tôi sẽ làm trăng.

Em là trăng tôi sẽ là mây.

Nếu em là mây tôi sẽ làm gió thổi.

Còn nếu em là chân trời xa tôi sẽ làm

cánh chim bằng rong ruổi.

Em là mặt trời thì ở trên đường xích đạo

tôi sẽ muôn đời làm một kiếp hướng dương.

 

Ngoài chủ đề tình ái quen thuộc như đã trình bầy ở trên, Prévert và Nguyên Sa còn làm thơ để châm biếm các quy ước xã hội hoặc nhắc nhở đến những vấn đề nhân sinh, trong đó cái vô lý của chiến tranh là một mối quan tâm lớn, với lời thơ nhuốm một nỗi sầu man mác và vẫn dùng phương thức kể lể độc đáo của họ. Bài thơ Barbara lẫy lừng của Prévert (đã được phổ nhạc để hát trong các quán rượu và khiêu vũ trường) có thể làm người đọc rơi lệ thương cảm cho mối tình mới chớm nở đã bị chiến tranh cướp mất giữa nàng Barbara và một chàng trai thời loạn. Là chứng nhân của mối tình ấy, Prévert trìu mến nhớ lại lúc cặp tình nhân gặp nhau dưới làn mưa hạnh phúc, khi Barbara vội chạy vào trong vòng tay người yêu, đầm đìa nước mưa, mừng vui, hớn hở. Trong ba câu dưới đây, Prévert đã thực hiện các liệt kê này: câu (1) và (3) chứa hai động tác  cuống cuồng của một phụ nữ đang yêu (“chạy vội” về phía người yêu và “ném mình” vào trong vòng tay chàng), câu (2) kê ra ba tính từ rất đẹp để tả người phụ nữ đang yêu dưới mưa ấy (đầm đìa, mừng vui, hớn hở):

 

Et tu as couru vers lui sous la pluie

Ruisselante ravie épanouie

Et tu t’es jetée dans ses bras

 

Nhưng dưới trận mưa sắt, lửa, thép, và máu của chiến tranh ngu xuẩn, em bây giờ ra sao, hỡi Barbara, và cái anh chàng đã ôm em đắm đuối trong vòng tay bây giờ thế nào —  chết, mất tích, hay còn sống ? Những kể lể ấy làm cho đoạn thơ kế tiếp thêm xót xa, ái ngại:

 

Quelle connerie la guerre

Qu’es-tu devenue maintenant

Sous cette pluie de fer

De feu d’acier de sang

Et celui qui te serrait dans ses bras

Amoureusement

Est-il mort disparu ou bien encore vivant

 

Cắt tóc ăn tết của Nguyên Sa là một thác nước kể lể thần sầu đánh mạnh vào tâm tư người đọc như một lời kinh xin giải tội cho một đất nước đang băng hoại đạo đức trong cơn khói lửa. Ngày nay đọc lại bài ấy, tôi không khỏi buồn man mác và nuối tiếc vì lời nguyện cầu của nhà thơ ưu thời mẫn thế đó đã không được ông Trời chấp nhận cho.  Xin được kết thúc bài viết này bằng một vài đoạn đặc sắc trong bài thơ sầu bi ấy :

 

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta

Cắt cho ta sợi dài

Cắt cho ta sợi ngắn

Cắt cái sợi ăn gian

Cắt cái sợi nói dối

Sợi ăn cắp trên đầu

Sợi vu oan dưới gáy

Sợi bè phái đâm ngang

Sợi ghen tuông đứng dọc

Sợi xích chiến xa, sợi giây thòng lọng

Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt

……………

Cắt cho ta

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta

Sợi Hà-Nội khóc trong mưa

Sợi Sài-Gòn buồn trong nắng

Sợi dạy học chán phè

Sợi làm thơ thiểu não

……………

Cắt cho ta

Sợi mệt mỏi sau những tháng ngày hoan hô đả đảo

Sợi cháy đen như rừng núi Chu-Prong

Sợi thở dài trong đêm cúp điện tối om

Sợi sát vào nhau đánh sáp lá cà

Sợi cắt non sông thành Bắc Nam, thành khu chiến

 

 

 

 

Tìm Thấy

Nguyên tác Đức ngữ của Johann Wolfgang von Goethe

Bản dịch sang Việt ngữ của Đàm Trung Pháp

                                                      

Thành kiến cho rằng Đức ngữ nghe không mấy “khoái tai” đã bị thi ca trữ tình Đức ngữ phản bác hùng hồn bằng bản chất uyển chuyển và đầy nhạc tính của nó. Bản chất này đã giúp thơ trữ tình Đức ngữ đi vào di sản văn học nhân loại. Thi nhân trữ tình lẫy lừng nhất trong văn học Đức là Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832). Bậc thiên tài hy hữu này đã thành công trong đủ mọi loại văn chương. Trong cõi thơ trữ tình của ông, nổi bật nhất là ngôn ngữ bình dị và cấu trúc ngữ pháp đơn sơ theo truyền thống dân ca. Trọn bài thơ Gefunden (Tìm Thấy) dưới đây phản ánh vẹn toàn các đặc trưng đó của thi bá Goethe:

 

Tôi đi trong rừng,

Một mình cô quạnh,

Chẳng tìm kiếm chi,

Đó là chủ ý.

 

Bỗng trong bóng mát

Ló rạng nụ hoa

Long lanh như sao

Đẹp đôi mắt hiền.

 

Tôi muốn hái hoa,

Nhưng hoa khẽ nói:

Hoa sao khỏi héo

Nếu bị lìa cành?

 

Tôi đào tất cả

Rễ nhỏ cây hoa,

Mang về vườn cây

Bên nhà đẹp đẽ.

 

Tôi trồng lại hoa

Trong góc vườn vắng

Giờ đây cây lớn

Mãi mãi nở hoa.

 

Để bạn đọc có thể thưởng thức nguyên tác của Goethe, tôi xin chép xuống dưới đây trọn bài thơ trữ tình ấy:

 

Ich ging im Walde

So fuer mich hin,

Und nichts zu sehen,

Das war mein Sinn.

 

Im Schatten sah ich

Ein Bluemenchen stehn,

Wie Sterne leuchtend,

Wie Aeuglein schoen.

 

Ich wollt’ es brechen,

Da sagt’ es fein:

Soll ich zum Welken

Gebrochen sein?

 

Ich grub’s mit allen

Den Wuerzlein aus,

Zum Garten trug ich’s

Am huebschen Haus.

 

Und pflanzt’ es wieder

Am stillen Ort;

Nun zweigt es immer

Und blueht so fort.

 

Cũng xin nói thêm là cái cây hoa tươi tốt mà lại biết nói tiếng Đức rất có duyên trong bài thơ hiền hòa chan chứa ân tình nêu trên chính là nàng Christiane Vulpius. Christiane là một cô gái trẻ đẹp với đôi mắt long lanh tình tứ và một thân hình hấp dẫn mà thi nhân đã bất ngờ “tìm thấy” khi tản bộ trong một công viên tại La Mã và rước ngay về nhà làm Nàng Thơ đấy!

 

 

 

 

 

 

 

Favorite Links
Categories
Subscribe
Enter your email to subscribe to future updates